Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Bá tử nhân dưỡng tâm nhuận tràng

Bá tử nhân còn có tên hạt trắc bách, tên khoa học Semen Thuya orientalis, là nhân hạt phơi hay sấy khô của cây trắc bách: Thuya orientalis L. [Biota orientalis (L) Endl.], họ hoàng đàn (Cupressaceae). Bá tử nhân chứa nhiều lipid, saponosid. Theo Đông y, bá tử nhân vị ngọt, tính bình; vào tâm can tỳ. Có tác dụng dưỡng tâm an thần, nhuận tràng thông tiện. Dùng cho các trường hợp hồi hộp lo âu, đánh trống ngực, mất ngủ (tâm quý thất miên), đại tiện táo bón. Hằng ngày dùng 9 - 15g bằng cách sắc hoặc nấu, hầm, rang chiên, xào.

Dưỡng tâm, an thần:

Tinh thần hoảng hốt, mất ngủ, ngủ mê nhiều, hồi hộp, tim đập mạnh, trí nhớ suy giảm: bá tử nhân 20g, thục địa 20g, mạch môn đông 12g, câu kỷ tử 12g, đương quy 12g, phục thần 12g, huyền sâm 12g, cam thảo 4g, xương bồ 4g. Sắc uống.

Trường hợp máu không nuôi dưỡng tim, hồi hộp, ngủ ít: bá tử nhân 16g, toan táo nhân 16g, ngũ vị tử 8g, viễn chí 8g. Sắc uống.

Dưỡng tâm an thần: bá tử nhân 500g, đương quy 500g. Nghiền chung thành bột mịn, luyện với mật, làm hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g.

Bổ âm, cầm mồ hôi, trị các chứng bệnh do âm hư, ra nhiều mồ hôi: bá tử nhân 16g, cù mạch 16g, ngũ vị tử 8g, bán hạ khúc 12g, mẫu lệ 12g, đảng sâm 12g, rễ ma hoàng 12g, bạch truật 12g. Nghiền thành bột mịn, trộn với cùi thịt quả đại táo, làm thành hoàn hoặc sắc uống.

Nhuận tràng, thông đại tiện, dùng cho người âm hư, người già và phụ nữ sau đẻ bị táo bón: bá tử nhân 12g, tùng tử nhân (nhân hạt quả thông) 12g, hỏa ma nhân 12g. Nghiền thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn hoặc sắc uống.

 	Nhân hạt phơi khô của cây trắc bá cho vị thuốc bá tử nhân.

Nhân hạt phơi khô của cây trắc bá cho vị thuốc bá tử nhân.

Món ăn - bài thuốc có bá tử nhân

Tim lợn hầm bá tử nhân: tim lợn 1 quả, bá tử nhân 30g. Tim bóc màng rửa sạch, rạch mở cho bá tử nhân vào, khâu buộc lại, hầm cách thủy cho chín nhừ. Khi ăn thêm gia vị cho phù hợp. Dùng cho các bệnh nhân loạn nhịp tim, đánh trống ngực hồi hộp, lo âu, mất ngủ quên lẫn.

Cháo bá tử nhân: bá tử nhân 10 - 15g, gạo tẻ 100g, mật ong liều lượng thích hợp. Đem bá tử nhân giã giập, nấu với gạo thành cháo, cho mật ong khuấy đều và đun sôi lăn tăn là được. Dùng cho bệnh nhân loạn nhịp tim, đánh trống ngực, hồi hộp, lo âu, mất ngủ, quên lẫn, táo bón trường diễn.

Mật ướp bá tử nhân cúc hoa: bá tử nhân 30g, cúc hoa 30g. Sao khô tán mịn, để sẵn. Mỗi lần dùng 14 - 18g. Hòa với nước nóng, thêm mật ong vào khuấy đều. Tác dụng duy trì nhan sắc cho phụ nữ (bảo kiện mỹ dung).

Bá tử nhân hồ đào tán: bá tử nhân 500g, hồ đào nhục 500g. Tán mịn, trộn đều. Mỗi lần uống 9g với nước sôi (có thể thêm đường), uống sau bữa ăn. Dùng cho bệnh nhân thận hư, rụng tóc, làm mọc tóc, tóc dài mượt.

Kiêng kỵ: Người có đàm thấp, bị tiêu chảy không dùng.

BS. Tiểu Lan

Cây đa lông

Cây đa lông thuộc họ dâu tằm (Moraceae). Cây được trồng lấy bóng mát. Lá và búp non đa lông được sử dụng làm thuốc từ lâu đời. Dược liệu được thu hái về rửa sạch, chà xát nhẹ cho hết lông rồi phơi hoặc sấy khô. Khi dùng để sống hoặc sao vàng.

Theo kinh nghiệm dân gian, cây đa lông được dùng làm thuốc trong những trường hợp sau:

Chữa ho ra máu: lá hoặc búp đa lông 20g, sao cháy; mạch môn 20g, sao vàng; cỏ nhọ nồi 15g, để tươi. Tất cả thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày sau bữa ăn.

Chữa vàng da: lá đa lông 160g, rửa sạch, thái nhỏ, sao vàng, sắc với nước làm thang, nhân trần 160g, thần khúc 40g, phơi khô, sao giòn, tán nhỏ, rây thành bột mịn, uống với nước sắc trên. Người lớn, mỗi lần uống 1 thìa cà phê bột, ngày 3 - 5 lần. Trẻ em tùy tuổi dùng ít hơn. Có thể uống riêng nước sắc lá đa lông để phòng bệnh.

Chữa phù thũng: lá đa lông, rễ lá lốt, mã đề, rễ cà gai leo, rễ gai tầm song, rễ hoàng lực, mỗi thứ 10 - 30g thái nhỏ, phơi khô sắc uống làm 2 lần trong ngày.

Cây đa lông

Cây đa lông

Chữa đau đầu, viêm xoang mũi, chảy nước trong: búp lá đa lông, hoa cây tì bà, lượng bằng nhau, phơi khô tán bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g với rượu nhạt.

Chữa sốt rét: lá đa lông 30g, lá cối xay 30g. Hai thứ thái nhỏ, sao vàng, sắc uống.

Ngoài ra, rễ đa lông đôi khi cũng được dùng phối hợp với lá mít mật, rễ cỏ tranh, mã đề, râu mèo (lượng bằng nhau) sắc uống để chữa sỏi thận. Hoặc tua rễ đa lông 20g, rau dừa, nước và tì giải, mỗi thứ 15g, sắc uống chữa tiểu tiện không thông, đái ra dưỡng chấp.

Huyền Hoa




Xuyên tâm liên giải độc

Theo Y học cổ truyền, xuyên tâm liên có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết, tiêu thũng chỉ thống. Thường được dùng trị cảm sốt, cúm, trị ho, viêm họng, viêm phổi, sưng amidan, viêm đường tiết niệu, viêm âm đạo, khí hư, đau bụng kinh, viêm nhiễm đường ruột, tăng huyết áp, đau nhức cơ thể, tê thấp, mụn nhọt..

Cây công cộng còn có tên khác là khổ đởm thảo, nhất kiến hỷ, trong Đông y gọi là xuyên tâm liên. Là loại cây nhỏ sống 1 - 2 năm, mọc thẳng đứng, có thể cao đến 1m. Thân vuông, phân nhánh nhiều, các cành mọc theo 4 hướng. Lá mọc đối, có cuống ngắn, phiến lá hình trứng. Hoa nhỏ, màu trắng có điểm hường, mọc thành chùm ở nách lá hay ở ngọn cành. Quả nang dài. Hạt hình trụ, thuôn dài, màu nâu nhạt. Bộ phận dùng làm thuốc là phần trên mặt đất của cây thu hái vào đầu thu khi cây bắt đầu ra hoa, cắt thành từng đoạn, phơi hoặc sấy.

Xuyên tâm liên có tác dụng thanh nhiệt.

Bà con ở một số địa phương theo kinh nghiệm dân gian dùng cây này làm thuốc bổ cho phụ nữ sau khi sinh đẻ bị ứ huyết, đau nhức tê thấp, kinh nguyệt bế tắc. Dùng ngoài giã đắp mụn nhọt, ghẻ lở. Dùng ngoài không kể liều lượng giã đắp hoặc nấu nước rửa. Có thể chế thuốc mỡ để bôi.

Một số bài thuốc thường dùng

Chữa ho do lạnh: Xuyên tâm liên 12g, địa cốt bì 10g, tang bạch bì 10g, cam thảo 8g. Tất cả các vị cho vào ấm đổ 3 bát nước, sắc còn 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày. Uống lúc còn ấm. Dùng liền 5 ngày.

Chữa cảm mạo, đau đầu: Xuyên tâm liên 45g tán thành bột mịn; ngày uống 3 lần, mỗi lần 2g bột thuốc, chiêu thuốc bằng nước ấm. Dùng liền 5 ngày. Sau đó ăn cháo nóng.

Hỗ trợ điều trị viêm amidan: Xuyên tâm liên, huyền sâm, mạch môn, kim ngân hoa mỗi vị 12g. Tất cả các vị cho vào ấm đổ 3 bát nước, sắc còn 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày. Uống lúc còn ấm. Dùng liền 9 ngày.

Lở ngứa, rôm sảy, mụn nhọt: Lá xuyên tâm liên 1 nắm giã nát với rượu, dùng để xoa, đắp tại chỗ. Kết hợp cho uống thuốc sắc: Kim ngân hoa, sài đất, bèo cái, lá trắc bá, lá tre, mỗi thứ một nắm nhỏ, sắc đặc uống ngày một thang, chia 2 - 3 lần. Dùng đến khi khỏi.

Chữa tiểu tiện nhỏ giọt, nước tiểu vàng do nhiệt lâm: Lấy 15 lá xuyên tâm liên tươi, rửa sạch, để ráo giã nát, thêm chút mật ong, hãm nước sôi uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Hỗ trợ chữa viêm phế quản: Xuyên tâm liên, huyền sâm, mạch môn mỗi thứ 12g; vỏ quýt lâu năm, cam thảo mỗi thứ 4g. Sắc đặc uống ngày một thang, chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Dùng 9 ngày.

Kiêng kỵ: Theo y học cổ truyền, xuyên tâm liên là vị thuốc lạnh, sử dụng dài ngày có thể gây buồn nôn, tiêu chảy; người tỳ vị hư hàn không nên dùng.

Bác sĩ Thu Vân

Hoa hướng dương làm thuốc

Người Việt Nam đón Tết Nguyên đán thường trang trí nhiều cây hoa đẹp, đem lại sắc màu rực rỡ cho từng gia đình. Ngắm hoa trong không khí xuân mới ta cũng nên biết thêm công dụng phòng chữa bệnh của chúng. Xin giới thiệu một số bài thuốc từ hoa hướng dương - loài hoa tượng trưng cho niềm tin và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp.

Bộ phận dùng làm thuốc: hoa, đài hoa, lá, tủy cành, rễ và hạt. Hoa hướng dương tính ôn, vị ngọt, vào hai kinh can, phế, có công năng khu phong, sáng mắt, thông thoáng, chữa đau đầu, huyễn vựng, mặt má sưng và đau răng...

Trị ho, đờm suyễn, nhuận phế nhất là chữa ho gà, thông yết hầu, đẹp nhan sắc: hoa hướng dương từ 1 - 2 đóa, thêm đường phèn sắc uống.

Trị đầu choáng mắt hoa, đau đầu khó chịu, mặt má sưng đau, ngực đầy, ngắn hơi…: hoa hướng dương 3 - 5g, sắc uống hoặc chưng thành thang rồi thêm 1 - 2 quả trứng gà nấu kỹ.

Chữa viêm khớp, phù thũng không rõ nguyên nhân, viêm tuyến vú: dùng hoa hướng dương lượng thích hợp sắc đặc thành dạng cao, đắp vào chỗ đau.

Chữa tăng huyết áp: hoa hướng dương 60g, râu ngô 30g, đường đỏ 10g. Hoa hướng dương và râu ngô cho cùng nước sắc lấy 200ml, cho đường vào quấy đều chia làm ba lần uống trong ngày, cần uống 3 đợt, mỗi đợt 10 ngày, giữa các đợt cần nghỉ 5 ngày.

Chữa sốt: hoa hướng dương 60g, hà thủ ô 50g, sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần, uống nóng trước khi lên cơn sốt 3 giờ. Uống liên tục trong nhiều ngày (khoảng 1 tuần đến 10 ngày).

Chữa mờ mắt: đài hoa hướng dương lượng đủ dùng, đập vào 1 quả trứng gà, đổ thêm nước nấu chín nhừ, ăn cái uống nước.

Chữa nhức răng: đài hoa hướng dương 1 cái, rễ câu kỷ 1 nhúm, luộc chung với 1 quả trứng gà, khi trứng chín bóc bỏ vỏ, dùng tăm đâm vào trứng cho ngấm thuốc rồi nấu tiếp 1 lúc thì vớt trứng ăn.

Chữa đau dạ dày: đài hoa hướng dương 1 cái, dạ dày heo 1 cái. Dạ dày heo rửa kỹ, nấu chung với đài hoa, khi dạ dày heo chín thì ăn được.

BS. Phó Đức Thuần

Chữa di tinh, tiêu hóa kém

Khiếm thực còn có tên quả súng, kê đầu mễ... Vị khiếm thực ở nước ta có nguồn gốc từ hai cây: kê đầu mễ (Euryale ferox Salisb., họ Súng Nymphaeaceae) và cây củ súng (Nymphaea stellata Wild., họ súng Nymphaeaceae). Khiếm thực có nhiều tinh bột, protein, cellulose, Ca, P, Fe, các sinh tố B, C, acid nicotinic và caroten.

Theo Đông y, khiếm thực vị ngọt, sáp, tính bình; vào tỳ, thận. Có tác dụng cố thận sáp tinh, bổ tỳ, trừ thấp tiêu trệ, chỉ tiết tả. Dùng cho các trường hợp tỳ hư tiết tả, di tinh hoạt tiết, huyết trắng, khí hư, di niệu. Liều dùng, cách dùng: 15 - 30g dưới dạng nấu luộc, ninh, sắc, tán bột.

Khiếm thực được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Ích thận, cố tinh: dùng bài Thủy lục đan: kim anh tử, khiếm thực, liều lượng bằng nhau. Nghiền thành bột mịn, làm thành hoàn. Mỗi lần uống 8g, chiêu với nước cơm. Trị chứng di tinh, bạch trọc (tinh tự ra, đái đục).

Kiện tỳ, cầm tiêu chảy: sơn dược 12g, bạch truật 8g, đảng sâm 12g, phục linh 12g, khiếm thực 12g, ý dĩ nhân 12g, trần bì 12g, trạch tả 8g, thần khúc 8g, cam thảo 4g. Sắc uống khi còn nóng. Trị trẻ em tỳ hư, tiêu hóa kém, tiêu chảy kéo dài.

chữa di tinh, tiêu hóa kémCủ súng

Thử thấp, chỉ đới: dùng một trong các bài:

Bài 1 - thuốc bột dị hoàng: khiếm thực 12g, bạch quả 12g, sơn dược 20g, hoàng bá 8g, xa tiền tử 12g. Các vị nghiền thành bột hoặc sắc uống. Trị chứng thấp nhiệt đới hạ.

Bài 2 - thuốc Hoàn phân thanh: bột khiếm thực, bột phục linh, liều lượng bằng nhau. Luyện với mật ong làm hoàn. Mỗi lần uống 12g, chiêu với nước muối nhạt. Trị bạch đới.

Bài 3: khiếm thực 63g, gan lợn 125-250g. Nấu chín ăn. Trị bệnh đái tháo đường.

Món ăn thuốc có khiếm thực:

Chè khiếm thực liên nhục: khiếm thực 30g, liên nhục 15g nấu chín nhừ thêm đường; mỗi ngày làm ăn 2 lần, đợt dùng 1 tháng. Dùng cho người di tinh, hoạt tinh, khí hư, huyết trắng, tiểu buốt, tiểu dắt (di niệu).

Canh khiếm thực đại táo: khiếm thực 30g (sao vàng), đại táo 15g, cho nước lượng thích hợp nấu chín nhừ, cho thêm chút giấm rượu khuấy đều. Uống trước khi ngủ. Dùng cho người cao tuổi tiểu đêm, di niệu.

Canh tôm thịt lợn trứng gà khiếm thực: khiếm thực 30g, trứng gà 2 cái, thịt lợn nạc 100g, tôm nõn 60g, cần tây, mộc nhĩ lượng tùy ý, thêm gia vị, nấu chín nhừ. Dùng cho người tỳ vị hư nhược, ăn kém chậm tiêu, lão suy trước tuổi.

Chè liên nhục khiếm thực hoài sơn: khiếm thực 250g, liên nhục 250g, sơn dược 250g, ngó sen 250g; mỗi thứ sao vàng tán bột trộn đều để sẵn. Mỗi lần dùng 30g khuấy đều với nước sôi thêm đường, ngày 3 lần ăn. Đợt liên tục 10 ngày. Dùng cho người tiêu chảy dài ngày do tỳ hư (trẻ em suy dinh dưỡng, người cao tuổi...).

Cháo khiếm thực: bột khiếm thực 60g, gạo tẻ 150g nấu cháo, thêm muối hoặc đường. Dùng cho người di tinh, huyết trắng, tiêu chảy mạn tính, tiểu buốt, tiểu dắt, di niệu.

Kiêng kỵ: người bị cảm cúm khởi phát, táo bón đầy trướng bụng không dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Công dụng chữa bệnh của cây thạch vĩ dây

Theo y học cổ truyền, cây thạch vĩ dây có vị ngọt, tính lạnh. Quy vào hai kinh tiểu trường và bàng quang. Có tác dụng hông lâm, thanh nhiệt giải độc và lợi thấp. Chủ trị các chứng, thủy thũng, tiểu tiện khó khăn, mụn nhọt sang lở, vết thương do bỏng.

Cây thạch vĩ dây còn có tên là, dương vong,... Đông y gọi là “hải kim sa” vì lá lóng lánh như những hạt cát vàng (kim sa). Là loại cây leo, thân rễ bò, lá dài, có nhiều cặp lá chét, mỗi lá chét có nhiều lá chét con mang ổ tử nang ở mép. Bao tử hình 4 mặt trắng xám hơi vàng. Vòng đầy đủ nằm ngang gần đỉnh bảo tử nang.

Cây mọc hoang khắp nơi, thường thấy ở bụi rậm, bờ rào. Bộ phận được sử dụng làm thuốc là cả dây mang lá, dùng tươi hay phơi khô. Thu hái gần như quanh năm.

Thạch vĩ dây.

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm

Chữa chứng tiểu tiện khó khăn, nước tiểu đỏ do nhiệt: Thạch vĩ dây 24g cho 400ml nước, đun sôi khoảng 15 phút, có thể thêm chút đường, uống thay trà trong ngày. Có thể thay thế bằng các vị thuốc sau: thạch vĩ dây 100g, mang tiêu 100g, hổ phách 40g, bằng sa 20g. Tất cả tán thành bột, uống ngày 5 - 8g, chia 3 lần, chiêu với nước ấm.

Sản phụ ít sữa: Thạch vĩ dây 12 - 24g, rửa sạch, đổ 400ml nước, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Chữa bỏng lửa (bỏng nhẹ, vết thương hẹp): Thạch vĩ dây 25g, đốt tồn tính, nghiền thành bột mịn, trộn với ít dầu vừng, rửa sạch vết thương bôi vào chỗ bị bỏng.

Chữa ăn uống khó tiêu, bụng trướng đầy do thấp trệ (tỳ thấp trướng mãn): Thạch vĩ dây 20g, bạch truật 8g, cam thảo 2g. Đổ 500ml nước sắc còn 150ml, chia 2 lần uống trong ngày. Uống sau ăn 15 phút. Uống 5 - 10 ngày.

Hỗ trợ chữa sỏi niệu đạo: Thạch vĩ dây 30g, biển súc 15g, mã đề 30g. Tất cả cho vào ấm đổ 500ml nước, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 1 tuần. Nếu tiểu tiện khó đau rát: thạch vĩ dây 30g, hoạt thạch 30g, ngọn cành cam thảo 10g tán thành bột, mỗi lần uống 6g với nước sắc mạch môn, ngày 2 - 3 lần.

Lưu ý: Người tì vị hư hàn không dùng thạch vĩ dây.

Lương y Nguyễn Hữu

Viễn chí trị suy nhược thần kinh, viêm phế quản mạn

Viễn chí còn có tên dây ruột gà, tiểu thảo, nam viễn chí, là rễ hoặc vỏ rễ phơi khô của cây viễn chí lá nhỏ (Polygala tenuifolia Willd.) hoặc cây viễn chí Xêbêri (Polygala siribica L). Ở nước ta, có nhiều loài viễn chí đã dùng làm thuốc, nhưng chưa có tài liệu nghiên cứu sâu. Viễn chí có trên thị trường chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Viễn chí chứa nhiều saponin triterpen, nhựa, dầu béo và polygalitol. Vị đắng cay, tính ôn; vào kinh phế, tâm và thận, viễn chí có tác dụng dưỡng tâm, an thần, khứ đàm khai khiếu, tiêu ung thũng. Chữa chứng hồi hộp mất ngủ, tâm thận bất giao, đàm trở tâm khiếu, động kinh, hóa đàm khái thấu, ung nhọt sưng. Liều dùng: 4 - 12g. Sao hoặc tẩm mật ong nướng, sắc, hãm nước uống.

Một số bài thuốc trị bệnh có dây viễn chí:

Trị hồi hộp mất ngủ, ngủ hay mơ, suy nhược thần kinh, rối loạn trí nhớ.

Bài 1:đảng sâm 10g, viễn chí 10g, mạch đông 10g, phục linh 10g, đương quy 10g, bạch thược 10g, sinh khương 10g, đại táo 10g, cam thảo 3g, quế tâm 3g. Quế tâm tán bột để riêng. Các vị khác sắc lấy nước, hòa bột quế vào uống. Trị chứng tâm huyết bất túc (do máu không đủ nuôi tim), hay quên, hồi hộp, mất ngủ, nằm mộng nhiều.

Bài 2: nhân sâm hoặc đẳng sâm 30g, phục linh 30g, thạch xương bồ 20g, viễn chí 20g. Tất cả sấy khô, tán bột làm hoàn hồ. Chia cho 5 - 7 ngày, ngày 1 - 2 lần uống. Thích hợp cho người suy nhược thần kinh, quên lẫn, rối loạn trí nhớ.

Trị ho có đờm, viêm phế quản mạn:

Bài 1: viễn chí 8g, cát cánh 6g, cam thảo 6g. Sắc chia uống 3 lần trong ngày. Chữa ho có đờm.

Bài 2: viễn chí 12g, trần bì 4g, cam thảo 4g. Sắc uống. Chữa viêm phế quản mạn tính, ho có nhiều đờm.

Trị trẻ em sốt cao co giật: viễn chí 8g, sinh địa 8g, câu đằng 8g, thiên trúc hoàng 8g. Sắc uống.

Ngoài ra, viễn chí còn chữa mụn nhọt sưng do đờm tắc đọng hoặc sưng vú bằng cách sắc uống, bã đắp chỗ đau. Dây ruột gà còn dùng giải độc do phụ tử, ô đầu.

Món ăn thuốc có dây ruột gà:

Bài 1: viễn chí 10g, toan táo nhân sao 10g, gạo tẻ 50g. Sắc các vị thuốc lấy nước, bỏ bã, cho gạo vào nấu cháo, ăn vào buổi tối trước khi ngủ. Dùng tốt cho người tim đập mạnh, loạn nhịp, quên lẫn, giảm trí nhớ, mất ngủ, ho, nhiều đàm.

Bai 2. Dây ruột gà tán bột mịn, mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần, uống với nước cơm hoặc cháo. Thích hợp cho người suy nhược thần kinh, quên lẫn, giảm trí nhớ, tim đập mạnh, loạn nhịp, mất ngủ.

Kiêng kỵ: Người bệnh không có chứng thực hỏa và người âm hư dương vượng không dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Chữa cảm sốt với cây thục quỳ

Cây thục qùy có nguồn gốc từ nước ngoài, được du nhập và trồng làm cảnh vào dịp Tết nguyên đán ở nước ta vì có hoa rất đẹp. Là loại cây sống...